15:57 ICT Thứ tư, 14/04/2021 1
     

    Chuyên mục

    thành viên

    Lượt truy cập

    • Đang truy cập: 11
    • Khách viếng thăm: 10
    • Máy chủ tìm kiếm: 1
    • Hôm nay: 1307
    • Tháng hiện tại: 23460
    • Tổng lượt truy cập: 4026541

    Trang nhất » Tư vấn pháp luật

    Lên phía trên
    Trách nhiệm bồi thường của nhà nước trong hoạt động quản lý hành chính
    Câu hỏi:

    Pháp luật quy định như thế nào về trách nhiệm bồi thường của nhà nước trong hoạt động quản lý hành chính?

    Trả lời:
    Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước quy định phạm vi trách nhiệm bồi thường trong hoạt động quản lý hành chính như sau:
    “Nhà nước có trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ gây ra trong các trường hợp sau đây:
    1. Ban hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính;
    2. Áp dụng biện pháp ngăn chặn vi phạm hành chính và bảo đảm việc xử lý vi phạm hành chính;
    3. Áp dụng biện pháp buộc tháo dỡ nhà ở, công trình, vật kiến trúc và biện pháp cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính khác;
    4. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa người vào trường giáo dưỡng, đưa người vào cơ sở giáo dục hoặc đưa người vào cơ sở chữa bệnh;
    5. Cấp, thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh; Giấy chứng nhận đầu tư, giấy phép và các giấy tờ có giá trị như giấy phép;
    6. Áp dụng thuế, phí, lệ phí; thu thuế, phí, lệ phí; truy thu thuế; thu tiền sử dụng đất;
    7. Áp dụng thủ tục hải quan;
    8. Giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất; bồi thường, hỗ trợ, giải phóng mặt bằng, tái định cư; cấp hoặc thu hồi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất;
    9. Ban hành quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh;
    10. Cấp văn bằng bảo hộ cho người không đủ điều kiện được cấp văn bằng bảo hộ; cấp văn bằng bảo hộ cho đối tượng sở hữu công nghiệp không đủ điều kiện được cấp văn bằng bảo hộ; ra quyết định chấm dứt hiệu lực của văn bằng bảo hộ;
    11. Không cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, Giấy chứng nhận đầu tư, giấy phép và các giấy tờ có giá trị như giấy phép, văn bằng bảo hộ cho đối tượng có đủ điều kiện;
    12. Các trường hợp được bồi thường khác do pháp luật quy định.”
    Điều 14 quy định cụ thể về cơ quan có trách nhiệm bồi thường gồm:
    “1. Cơ quan hành chính trực tiếp quản lý người thi hành công vụ có hành vi trái pháp luật gây ra thiệt hại là cơ quan có trách nhiệm bồi thường.
    2. Ngoài trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này thì cơ quan có trách nhiệm bồi thường được xác định như sau:
    a) Trường hợp cơ quan quản lý người thi hành công vụ đã được chia tách, sáp nhập, hợp nhất hoặc bị giải thể thì cơ quan kế thừa chức năng, nhiệm vụ của cơ quan đó là cơ quan có trách nhiệm bồi thường; trường hợp không có cơ quan nào kế thừa chức năng, nhiệm vụ của cơ quan đã bị giải thể thì cơ quan đã ra quyết định giải thể là cơ quan có trách nhiệm bồi thường;
    b) Trường hợp tại thời điểm thụ lý đơn yêu cầu bồi thường mà người thi hành công vụ gây ra thiệt hại không còn làm việc tại cơ quan quản lý người đó thì cơ quan có trách nhiệm bồi thường là cơ quan quản lý người thi hành công vụ tại thời điểm gây ra thiệt hại;
    c) Trường hợp có sự uỷ quyền hoặc uỷ thác thực hiện công vụ thì cơ quan uỷ quyền hoặc cơ quan uỷ thác là cơ quan có trách nhiệm bồi thường; trường hợp cơ quan được ủy quyền, cơ quan nhận ủy thác thực hiện không đúng nội dung ủy quyền, ủy thác gây thiệt hại thì cơ quan này là cơ quan có trách nhiệm bồi thường;
    d) Trường hợp có nhiều người thi hành công vụ thuộc nhiều cơ quan cùng gây ra thiệt hại thì cơ quan quản lý ngành, lĩnh vực chịu trách nhiệm chính trong vụ việc là cơ quan có trách nhiệm bồi thường;
    đ) Trường hợp có nhiều người thi hành công vụ thuộc cơ quan trung ương và cơ quan địa phương cùng gây ra thiệt hại thì cơ quan trung ương là cơ quan có trách nhiệm bồi thường.”

    Trích bởi :hoidapphapluat-Bộ Tư pháp
    Lên phía trên
    Lấy lại sổ đỏ cho mượn để thế chấp ngân hàng
    Câu hỏi:

    Lấy lại sổ đỏ cho mượn để thế chấp ngân hàng

    Trả lời:
    Tóm tắt câu hỏi:

    Xin luật sư giúp tôi. Năm 2014 tôi có uỷ quyền cho một người quen một sổ đỏ nhà ở để thế chấp ngân hàng. Nhưng tôi không giữ giấy uỷ quyền nào. Bây giờ luật sư giúp tôi phải làm sao để có thể lấy lại được sổ đỏ nhà ở được. Hiện sổ đỏ đang ở ngân hàng. Tôi vô cùng lo lắng và không biết phải làm sao?

    Luật sư tư vấn:

    Cám ơn bạn đã gửi câu hỏi của mình đến Ban biên tập – Phòng tư vấn trực tuyến của Công ty LUẬT DƯƠNG GIA. Với thắc mắc của bạn, Công ty LUẬT DƯƠNG GIA xin được đưa ra quan điểm tư vấn của mình như sau:

    Căn cứ Điều 581 Bộ luật dân sự 2005 quy định hợp đồng ủy quyền như sau: “Hợp đồng uỷ quyền là sự thoả thuận giữa các bên, theo đó bên được uỷ quyền có nghĩa vụ thực hiện công việc nhân danh bên uỷ quyền, còn bên uỷ quyền chỉ phải trả thù lao, nếu có thoả thuận hoặc pháp luật có quy định.”

    Trong trường hợp của bạn, bạn cho người quen mượn sổ đỏ để thế chấp tại ngân hàng. Trên sổ đỏ đứng tên bạn, tuy nhiên bạn đã có giấy ủy quyền cho người quen của bạn, như vậy người quen của bạn có quyền sử dụng sổ đỏ để thế chấp tại ngân hàng vay tiền.

    Điều 342 Bộ luật Dân sự 2005 quy định thế chấp tài sản như sau:

    "1. Thế chấp tài sản là việc một bên (sau đây gọi là bên thế chấp) dùng tài sản thuộc sở hữu của mình để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự đối với bên kia (sau đây gọi là bên nhận thế chấp) và không chuyển giao tài sản đó cho bên nhận thế chấp.

    Trong trường hợp thế chấp toàn bộ bất động sản, động sản có vật phụ thì vật phụ của bất động sản, động sản đó cũng thuộc tài sản thế chấp.

    Lên phía trên
    Con nuôi có được hưởng thừa kế?
    Câu hỏi:

    Bà không có gia đình và nhận chồng tôi làm con nuôi. Hiện tại, bà đang ốm nặng. Vợ chồng tôi vẫn đang chăm sóc cho bà. Vậy khi bà mất thì việc thừa kế sẽ như thế nào? Thủ tục chuyển nhượng quyền sử dụng đất sẽ ra sao?

    Trả lời:
    Việc hưởng thừa kế không có sự phân biệt giữa con nuôi, con đẻ hay con ngoài giá thú. Vì vậy, trong trường hợp này chồng bạn có quyền được hưởng thừa kế của bà. Khi bà mất không có di chúc, tài sản của bà sẽ được chia theo pháp luật. Theo thông tin bạn cung cấp thì chồng bạn là con nuôi của bà và bà không có chồng con nên chồng bạn là người thừa kế thuộc hàng thừa kế thứ nhất của bà theo quy định tại Điều 651 Bộ luật dân sự 2015.
    Khi bà mất, để làm thủ tục chuyển nhượng quyền sử dụng đất sang tên chồng bạn, trước hết chồng bạn phải làm thủ tục khai nhận di sản thừa kế tại tổ chức hành nghề công chứng trong phạm vi thành phố nơi có bất động sản theo quy định tại Điều 58 Luật công chứng 2014. Sau khi đã hoàn tất thủ tục, chồng bạn thực hiện thủ tục đăng ký quyền sử dụng đất sang tên mình.
    Lên phía trên
    Tài sản được tặng cho trong thời kỳ hôn nhân
    Câu hỏi:

    Hai vợ chồng em đăng ký kết hôn năm 2005. Năm 2013, bố mẹ chồng em chuyển nhượng quyền sử dụng đất sang tên cho vợ chồng em (mảnh đất này của bố mẹ chồng em mua năm 1993). Năm 2016, vợ chồng em xảy ra mâu thuẫn dẫn đến ly hôn. Em yêu cầu chia đôi mảnh đất mỗi người một nửa, nhưng gia đình chồng em không nhất trí. Xin hỏi, trường hợp này, tài sản đó có được coi là tài sản chung của vợ chồng em không?

    Trả lời:
    Khoản 1 Điều 33 của Luật hôn nhân và gia đình 2014 quy định như sau:
    “1. Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.
    Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng.”
    Căn cứ vào quy định nêu trên và các thông tin mà bạn cung cấp thì quyền sử dụng đất đang đứng tên hai vợ chồng bạn là quyền sử dụng đất do bố mẹ chồng bạn chuyển nhượng cho hai vợ chồng bạn và là tài sản có sau khi kết hôn.
    Do vậy, đó là tài sản chung của hai vợ chồng bạn.
    Lên phía trên
    Quy trình giải quyết vụ án hình sự
    Câu hỏi:

    Tôi bị một người cạnh phòng trọ hiếp dâm 2 lần và tôi có bằng chứng là đoạn ghi âm kẻ đó nhận tội và cầu xin tôi không kiện cáo. Tôi đã gửi đơn tố cáo lên cơ quan công an kèm đoạn ghi âm, tôi cũng nếu rõ tên tuổi quê quán, nơi làm việc và nơi ở hiện tại của kẻ đó.
    Vậy cho tôi hỏi sau khi tôi gửi đơn tố cáo bao nhiêu lâu thì vụ án được đưa ra xét xử và quy trình từ lúc bắt đầu tôi nộp đơn tới lúc kết thúc là như thế nào?

    Trả lời:
    Theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự thì quy trình giải quyết một vụ án hình sự thông thường bao gồm các giai đoạn sau đây:
    1. Khởi tố vụ án hình sự
    Khi có các căn cứ quy định tại Điều 100 và xác định thấy có dấu hiệu của tội phạm thì cơ quan điều tra phải tiến hành khởi tố vụ án hình sự. Riêng đối với tội hiếp dâm, theo quy định tại Điều 105 của Bộ luật tố tụng hình sự thì vụ án về tội phạm hiếp dâm quy định tại Điều 111 của Bộ luật hình sự chỉ được khởi tố theo yêu cầu của người bị hại hoặc của người đại diện hợp pháp của người bị hại là người chưa thành niên, người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất.
    Về thời hạn, theo quy định tại Điều 103 của Bộ luật tố tụng hình sự thì trong thời hạn 20 ngày, kể từ ngày nhận được tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố, Cơ quan điều tra trong phạm vi trách nhiệm của mình phải kiểm tra, xác minh nguồn tin và quyết định việc khởi tố hoặc quyết định không khởi tố vụ án hình sự. Trong trường hợp sự việc bị tố giác, tin báo về tội phạm hoặc kiến nghị khởi tố có nhiều tình tiết phức tạp hoặc phải kiểm tra, xác minh tại nhiều địa điểm thì thời hạn để giải quyết tố giác và tin báo có thể dài hơn, nhưng không quá 02 tháng.
    2. Điều tra
    Theo quy định tại khoản 1 Điều 110 của Bộ luật tố tụng hình sự thì Cơ quan điều tra trong Công an nhân dân điều tra tất cả các tội phạm, trừ những tội phạm thuộc thẩm quyền điều tra của Cơ quan điều tra trong Quân đội nhân dân và Cơ quan điều tra của Viện kiểm sát nhân dân tối cao.
    Thời hạn điều tra vụ án hính sự được quy định tại Điều 119 của Bộ luật tố tụng hình sự như sau:
    - Thời hạn điều tra vụ án hình sự không quá 2 tháng đối với tội phạm ít nghiêm trọng, không quá 3 tháng đối với tội phạm nghiêm trọng, không quá 4 tháng đối với tội phạm rất nghiêm trọng và tội phạm đặc biệt nghiêm trọng, kể từ khi khởi tố vụ án cho đến khi kết thúc điều tra.
    - Trong trường hợp cần gia hạn điều tra do tính chất phức tạp của vụ án thì thời hạn điều tra được gia hạn như sau:
    + Đối với tội phạm ít nghiêm trọng có thể được gia hạn điều tra một lần không quá 2 tháng;
    + Đối với tội phạm nghiêm trọng có thể được gia hạn điều tra 2 lần, lần thứ nhất không quá 3 tháng và lần thứ hai không quá 2 tháng;
    + Đối với tội phạm rất nghiêm trọng có thể được gia hạn điều tra hai lần, mỗi lần không quá 4 tháng;
    + Đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng có thể được gia hạn điều tra ba lần, mỗi lần không quá 4 tháng.
    Khi có đủ căn cứ để xác định một người đã thực hiện hành vi phạm tội thì Cơ quan điều tra ra quyết định khởi tố bị can.
    Khi kết thúc điều tra, nếu đầy đủ chứng cứ để xác định có tội phạm và bị can thì Cơ quan điều tra làm bản kết luận điều tra đề nghị truy tố. Trong thời hạn hai ngày, kể từ ngày ra bản kết luận điều tra, Cơ quan điều tra phải gửi bản kết luận điều tra đề nghị truy tố cùng hồ sơ vụ án cho Viện kiểm sát cùng cấp; gửi bản kết luận điều tra đề nghị truy tố hoặc quyết định đình chỉ điều tra cho bị can, người bào chữa.
    3. Truy tố
    Theo quy định tại Điều 166 của Bộ luật tố tụng hình sự, trong thời hạn 20 ngày đối với tội phạm ít nghiêm trọng và tội phạm nghiêm trọng, 30 ngày đối với tội phạm rất nghiêm trọng và tội phạm đặc biệt nghiêm trọng, kể từ ngày nhận được hồ sơ vụ án và bản kết luận điều tra, nếu xác định có tội phạm và bị can, Viện kiểm sát phải sẽ ra quyết định truy tố bị can trước Tòa án bằng bản cáo trạng.
    Trong trường hợp cần thiết, Viện trưởng Viện kiểm sát có thể gia hạn, nhưng không quá 10 ngày đối với tội phạm ít nghiêm trọng và tội phạm nghiêm trọng; không quá 15 ngày đối với tội phạm rất nghiêm trọng; không quá 30 ngày đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.
    4. Xét xử sơ thẩm
    Theo quy định tại Điều 176 của Bộ luật tố tụng hình sự, trong thời hạn 30 ngày đối với tội phạm ít nghiêm trọng, 45 ngày đối với tội phạm nghiêm trọng, 2 tháng đối với tội phạm rất nghiêm trọng, 3 tháng đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng, kể từ ngày nhận hồ sơ vụ án, nếu đủ căn cứ, Thẩm phán được phân công chủ tọa phiên sẽ ra quyết định ít nghiêm trọng và tội phạm nghiêm trọng, không quá 30 ngày đối với tội phạm rất nghiêm trọng và tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.
    Trong thời hạn 15 ngày đưa vụ án ra xét xử. Đối với những vụ án phức tạp, Chánh án Tòa án có thể quyết định gia hạn thời hạn chuẩn bị xét xử, nhưng không quá 15  ngày đối với tội phạm, kể từ ngày có quyết định đưa vụ án ra xét xử, Toà án phải mở phiên toà; trong trường hợp có lý do chính đáng thì Toà án có thể mở phiên toà trong thời hạn 30 ngày.

     

     

     

    Các văn bản liên quan:

    Bộ luật 15/1999/QH10 Hình sự (Hết hiệu lực một phần)

    Bộ luật 19/2003/QH11 Tố tụng hình sự (Còn hiệu lực)

    Lên phía trên
    Tranh chấp đất đai do hành vi lấn đất
    Câu hỏi:

    Năm 2015, tôi nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất từ ông M. Việc đo đạc và đóng trụ ranh giới thửa đất do ông M và cán bộ địa chính thực hiện. Năm 2016, khi tôi xây nhà, Ông M có đến đo lại đất lần nữa nhưng không có ý kiến phản đối. Trong khi tôi đang thi công xây dựng nhà, ông M có trở lại nói rằng tôi xây nhà đã lấn qua phần đất còn lại của ông (tôi chưa thay đổi diện tích nhà lần nào). Hỏi: Ông M có quyền thưa kiện và đập bỏ tường nhà tôi không?

    Trả lời:
    Theo quy định tại Khoản 24, Điều 3 Luật Đất đai 2013, tranh chấp đất đai là tranh chấp về quyền, nghĩa vụ của người sử dụng đất giữa hai hoặc nhiều bên trong quan hệ đất đai. Trong trường hợp này, bạn và ông M phát sinh tranh chấp từ việc ông M cho rằng bạn đã lấn đất (tự ý dịch chuyển ranh giới thửa đất của bạn để mở rộng diện tích).
    Đối với các tranh chấp về đất đai, pháp luật đất đai khuyến khích các bên tranh chấp đất đai tự hòa giải hoặc giải quyết tranh chấp đất đai thông qua hòa giải ở cơ sở. Tranh chấp đất đai mà các bên tranh chấp không hòa giải được thì gửi đơn đến Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất tranh chấp để hòa giải. Nếu hoà giải không thành thì các bên có quyền gửi đơn tới Toà án để giải quyết.
    Theo Khoản 9, Điều 26 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015 các tranh chấp đất đai theo quy định của pháp luật về đất đai là một trong những tranh chấp dân sự thuộc thẩm quyền của Tòa án. Đôi với hành vi này ngoài việc bị xử lý theo quy định của pháp luật, người có hành vi vi phạm còn phải bồi thường theo mức thiệt hại thực tế cho người bị thiệt hại, có thể bị áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả là buộc trả lại đất đã lấn (Điều 10 Nghị định số 102/2014/NĐ-CP ngày 10/11/2014 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai).
    Do đó, trường hợp của bạn nếu xác định việc sử dụng đất của bạn có lấn đất của ông M thì hai bên có thể thỏa thuận theo quy định của pháp luật dân sự. Nếu không thỏa thuận được ông M có thể khởi kiện bạn theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Nếu Tòa án xác định việc sử dụng đất của bạn không lấn đất của ông M thì ông M không có quyền đập bỏ tường nhà bạn và lấy lại đất.
     Các văn bản liên quan:
    - Bộ luật Dân sự 2015.
    - Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015.
    - Luật Đất đai năm 2013.
    - Nghị định số 102/2014/NĐ-CP ngày 10/11/2014 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai.
    Lên phía trên
    Tặng cho quyền sử dụng cho cháu (Câu hỏi 03/7/2017)
    Câu hỏi:

    Bà nội tôi muốn tặng cho quyền sử dụng nhà, đất hiện tại cho cháu nội là tôi. Giấy chứng nhận quyền sử dụng nhà, đất đứng tên của một mình bà. Nhà ở hiện tại do Nhà nước cấp vào năm 1983. Ông nội và bà nội tôi sống chung nhưng không có đăng kí kết hôn và có 3 người con chung (nay cả 3 người đã mất).
    Hỏi:
    1. Hiện nay, bà nội muốn tặng cho quyền sử dụng đất cho tôi thì có cần phải có sự đồng ý của ông nội tôi hay không?
    2. Khi làm thủ tục thì có cần đến sự đồng thuận của các con riêng của ông hay không? (Do ông nội tôi sau đó cũng có 2 con trai với người khác).

    Trả lời:
    1. Vì Bạn không nói thời điểm sống chung nên giả định thời điểm sống chung của Ông nội và bà nội trước năm 1983. Theo quy định tại Khoản 4, Điều 1 Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 06/01/2016 của Toà án nhân dân tối cao - Viện Kiểm sát nhân dân tối cao - Bộ Tư pháp về hướng dẫn thi hành một số quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình thì ông bà nội bạn xác định là Người đang có vợ hoặc có chồng.
    4. “Người đang có vợ hoặc có chồng quy định tại Điểm c, Khoản 2, Điều 5 Luật hôn nhân và gia đình là người thuộc một trong các trường hợp sau đây:
    a) Người đã kết hôn với người khác theo đúng quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình nhưng chưa ly hôn hoặc không có sự kiện vợ (chồng) của họ chết hoặc vợ (chồng) của họ không bị tuyên bố là đã chết;
    b) Người xác lập quan hệ vợ chồng với người khác trước ngày 03-01-1987 mà chưa đăng ký kết hôn và chưa ly hôn hoặc không có sự kiện vợ (chồng) của họ chết hoặc vợ (chồng) của họ không bị tuyên bố là đã chết”.
    Như vậy, xác định quan hệ của ông bà nội bạn là quan hệ vợ chồng thực tế được pháp luật thừa nhận. Theo quy định tại Điều 15 Luật Hôn nhân và gia đình 1959 thì “Vợ và chồng đều có quyền sở hữu, hưởng thụ và sử dụng ngang nhau đối với tài sản có trước và sau khi cưới”. Quyền sử dụng nhà, đất hiện tại được Nhà nước cấp năm 1983 xác định là tài sản chung của vợ chồng. Do vậy, bà nội muốn tặng cho quyền sử dụng đất cho bạn thì có cần phải có sự đồng ý của ông nội.
    2. Khi làm thủ tục thì không cần đến sự đồng thuận của các con riêng của ông. Bởi vì đất này được xác lập là tài sản chung ông bà nội bạn.
    Các văn bản liên quan:
    - Bộ luật Dân sự 2015.
    - Luật Đất đai năm 2013.
    - Luật Hôn nhân và Gia đình 1959.
    - Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 06/01/2016 của Toà án nhân dân tối cao - Viện Kiểm sát nhân dân tối cao - Bộ Tư pháp về hướng dẫn thi hành một số quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình.
    Lên phía trên
    Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất
    Câu hỏi:

    Ông, bà nội tôi có một mảnh đất 1000 m2. Hiện nay, ông bà cho tôi một phần và em con chú tôi 2 phần. Gia đình ông nội và các cô chú bác đã họp gia đình thống nhất cho chúng tôi. Văn phòng đăng ký đất đai đã đo, chỉnh lý biến động xong.
    Hỏi: Cần làm một hợp đồng hay hai hợp đồng cho 02 anh em?

    Trả lời:
    Trả lời:
    Dựa trên các thông tin mà bạn cung cấp thì trường hợp đất của ông, bà nội bạn sau khi thống nhất với các thành viên trong gia đình xác định cho bạn và em con chú. Gia đình bạn đã làm thủ tục để đo, chỉnh lý biến động xong, hoàn thành thủ tục tách thành 02 thửa, chúng tôi tư vấn như sau:
    Căn cứ Điểm a, d, Khoản 3, Điều 167 Luật Đất đai 2013 quy định:
    “a) Hợp đồng chuyển nhượng, tặng cho, thế chấp, góp vốn bằng quyền sử dụng đất, quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất phải được công chứng hoặc chứng thực, trừ trường hợp kinh doanh bất động sản quy định tại điểm b khoản này;
    d) Việc công chứng thực hiện tại các tổ chức hành nghề công chứng, việc chứng thực thực hiện tại ủy ban nhân dân cấp xã.”
    Trong trường hợp này, bạn lập hai hợp đồng tặng cho (01 hợp đồng Ông, bà nội tặng cho bạn và 01 hợp đồng ông, bà nội tặng cho em con chú bạn), hợp đồng được lập thành văn bản và phải có chứng thực tại ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất hoặc công chứng tại các tổ chức hành nghề công chứng.
    Hợp đồng tặng cho bất động sản có hiệu lực kể từ thời điểm đăng ký. Đất đai là một loại bất động sản pháp luật quy định phải đăng ký quyền sử dụng, do đó bạn lưu ý làm thủ tục đăng ký tại Văn phòng Đăng ký đất đai sau khi hợp đồng đã được công chứng hoặc chứng thực. Đối với bất động sản được tặng cho giữa ông nội, bà nội với cháu nội cần có một số giấy tờ sau: Bản sao Giấy khai sinh của cháu nội và bản sao Giấy khai sinh của bố cháu nội; hoặc bản sao Sổ hộ khẩu có thể hiện mối quan hệ giữa ông nội, bà nội với cháu nội.
    Thu nhập từ nhận quà tặng là bất động sản giữa ông nội, bà nội với cháu nội thuộc trường hợp được miễn thuế thu nhập cá nhân.
    Tài liệu tham khảo
    1. Bộ luật Dân sự 2015.
    2. Luật Đất đai 2013.
    3. Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật đất đai.
    4. Luật Thuế thu nhập cá nhân 2007 (sửa đổi, bổ sung 2014).
    Lên phía trên
    Sai tên và năm sinh trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
    Câu hỏi:

    Tôi nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất và nhờ người khác làm giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Đến khi nhận giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mới phát hiện tên và năm sinh bị sai so với chứng minh nhân dân và sổ hộ khẩu. Tôi bị mất giấy khai sinh từ lâu.
    Hỏi: Tôi có thể đính chính lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được không?

    Trả lời:
    Trả lời:
    Với câu hỏi của bạn, chúng tôi tư vấn như sau:
    (i) Các trường hợp đính chính Giấy chứng nhận
     Căn cứ Khoản 1, Điều 106 Luật Đất đai 2013 quy định về việc đính chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, giấy chứng nhận quyền sỡ hữu nhà ở, Giấy chứng nhận quyền sở hữu công trình (gọi chung là Giấy chứng nhận) đã cấp như sau: “Cơ quan có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận có trách nhiệm đính chính Giấy chứng nhận đã cấp có sai sót trong các trường hợp sau đây:
    a) Có sai sót thông tin về tên gọi, giấy tờ pháp nhân hoặc nhân thân, địa chỉ của người sử dụng đất, chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất so với giấy tờ pháp nhân hoặc nhân thân tại thời điểm cấp Giấy chứng nhận của người đó;
    b) Có sai sót thông tin về thửa đất, tài sản gắn liền với đất so với hồ sơ kê khai đăng ký đất đai, tài sản gắn liền với đất đã được cơ quan đăng ký đất đai kiểm tra xác nhận”.
    Bạn thuộc trường hợp có sai sót thông tin về tên gọi, năm sinh của người sử dụng đất so với giấy tờ nhân thân tại thời điểm cấp Giấy chứng nhận. Trường hợp này, bạn được phép đính chính lại Giấy chứng nhận.
    (ii) Thủ tục đính chính Giấy chứng nhận đã cấp
    Khoản 1, Điều 86 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai 2013: “Người sử dụng đất, chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất nộp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở, Giấy chứng nhận quyền sở hữu công trình xây dựng đã cấp có sai sót cho Văn phòng đăng ký đất đai để đính chính. Trường hợp sai sót do lỗi của người sử dụng đất, chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất thì người sử dụng đất, chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất phải có đơn đề nghị để được đính chính”.
    Đồng thời, theo hướng dẫn tại Khoản 3, Điều 10 Thông tư số 24/2014/TT-BTNMT ngày 19/5/2014 quy định về hồ sơ địa chính của Bộ Tài nguyên và Môi trường, khi thực hiện thủ tục đính chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, bạn phải chuẩn bị những hồ sơ sau:
    “a) Đơn đề nghị đính chính đối với trường hợp người sử dụng đất, chủ sở hữu tài sản phát hiện sai sót trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở, Giấy chứng nhận quyền sở hữu công trình xây dựng đã cấp;
    b) Bản gốc Giấy chứng nhận đã cấp”.
    Như vậy, khi phát hiện phần tên chủ sử dụng có sai sót, bạn làm đơn đề nghị đính chính gửi tới Văn phòng Đăng ký đất đai cấp huyện, kèm theo đơn là giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và giấy tờ khác chứng minh thông tin có sai lệch (như trong trường hợp của bạn bị sai tên thì cần nộp Chứng minh nhân dân, hộ khẩu) để đề nghị giải quyết. Văn phòng Đăng ký đất đai có trách nhiệm kiểm tra; lập biên bản kết luận về nội dung và nguyên nhân sai sót; lập hồ sơ trình cơ quan có thẩm quyền thực hiện đính chính vào Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp có sai sót; đồng thời chỉnh lý nội dung sai sót vào hồ sơ địa chính, cơ sở dữ liệu đất đai.
    Tài liệu tham khảo
    1. Luật Đất đai 2013.
    2. Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai 2013.
    3. Thông tư số 24/2014/TT-BTNMT ngày 19/5/2014 của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định về hồ sơ địa chính.
    4. Thông tư số 23/2014/TT-BTNMT ngày 19/5/2014 của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định về giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất.
    Lên phía trên
    Yêu cầu thay đổi Chấp hành viên trong trường hợp có căn cứ cho rằng Chấp hành viên không vô tư khi làm nhiệm vụ
    Câu hỏi:

    Theo quy định của Điều 7 và Điều 7a Luật Thi hành án dân sự 2014, người được thi hành án và người phải thi hành án có quyền: “Yêu cầu thay đổi Chấp hành viên trong trường hợp có căn cứ cho rằng Chấp hành viên không vô tư khi làm nhiệm vụ”. Vậy, căn cứ nào cho rằng Chấp hành viên không vô tư khi làm nhiệm vụ?

    Trả lời:
    Yêu cầu thay đổi Chấp hành viên là một trong những quyền của người được thi hành án và người phải thi hành án qui định tại Điều 7 và 7a luật THADS 2014. Để có căn cứ yêu cầu thay đổi Chấp hành viên, người được thi hành án và người phải thi hành án phải chứng minh Chấp hành viên không vô tư khi làm nhiệm vụ.
    Theo quy định tại Khoản 1 Điều 10, Nghị định 62/2015 hướng dẫn: “Đương sự có quyền yêu cầu thay đổi Chấp hành viên trong trường hợp sau đây:
    a) Thuộc trường hợp quy định tại Khoản 5 Điều 21 Luật Thi hành án dân sự;
    b) Chấp hành viên đã tham gia với tư cách người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, người làm chứng trong cùng vụ án đó;
    c) Chấp hành viên chậm trễ giải quyết việc thi hành án;
    d) Có căn cứ khác cho rằng Chấp hành viên không vô tư trong khi làm nhiệm vụ”.
    Theo hướng dẫn này, thì người được thi hành án và người phải thi hành án yêu cầu thay đổi Chấp hành viên, khi Chấp hành viên thực hiện việc thi hành án liên quan đến quyền, lợi ích của bản thân và những người sau đây:
    - Vợ, chồng, con đẻ, con nuôi;
    - Cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, bác, chú, cậu, cô, dì và anh, chị, em ruột của Chấp hành viên, của vợ hoặc chồng của Chấp hành viên; Cháu ruột mà Chấp hành viên là ông, bà, bác, chú, cậu, cô, dì;  Chấp hành viên đã tham gia với tư cách người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, người làm chứng trong cùng vụ án đó; Chấp hành viên chậm trễ giải quyết việc thi hành án; Có căn cứ khác cho rằng Chấp hành viên không vô tư trong khi làm nhiệm vụ.
    Hướng dẫn này mở rộng quyền yêu cầu thay đổi Chấp hành viên của người được thi hành án và người phải thi hành án, không bị bó hẹp trong phạm vi “có căn cứ cho rằng Chấp hành viên không vô tư khi làm nhiệm vụ”. Đây là một trong những trường hợp mà người được thi hành án và người phải thi hành án để yêu cầu thay đổi Chấp hành viên.
    Tuy nhiên, như thế nào là “có căn cứ cho rằng Chấp hành viên không vô tư khi làm nhiệm vụ” đến nay vẫn chưa có văn bản hướng dẫn thi hành.
    Tài liệu tham khảo:
    Luật Thi Hành án dân sự 2014
    Nghị định 62/2015/NĐ-CP,  ngày 18 tháng 07 năm 2015 nghị định quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thi hành án dân sự.
    Lên phía trên
    Thủ tục đăng ký khai sinh cho trẻ bị bỏ rơi
    Câu hỏi:

    Một buổi sáng, chị H khi mở cổng đi làm thì phát hiện một chiếc làn đặt trước cổng, bên trong có 1 bé trai sơ sinh khoảng vài ngày tuổi, bên cạnh có mấy bộ đồ trẻ sơ sinh và không có giấy tờ gì khác. Chị H đưa cháu vào nhà, rồi báo cáo với chính quyền địa phương sự việc. Thấy thương cho cháu bé nên chị đề nghị trong thời gian đợi làm các thủ tục cần thiết, được chăm sóc cháu.
    Vậy, trong thời gian chăm sóc cháu bé, chị H có phải làm thủ tục đăng ký khai sinh cho cháu không?

    Trả lời:
    Quyền được khai sinh và có quốc tịch là một trong những quyền quan trọng của trẻ em ngay từ khi sinh ra và được quy định trong các văn bản pháp luật của nước ta. Đăng ký khai sinh cho trẻ em không chỉ là quyền mà còn là nghĩa vụ của những cá nhân, tổ chức có thẩm quyền.
    Tại Điều 14 Nghị định số 123/2015/NĐ-CP quy định về đăng ký khai sinh cho trẻ bị bỏ rơi như sau:
    1. Người phát hiện trẻ bị bỏ rơi có trách nhiệm bảo vệ trẻ và thông báo ngay cho Ủy ban nhân dân hoặc công an cấp xã nơi trẻ bị bỏ rơi. Trường hợp trẻ bị bỏ rơi tại cơ sở y tế thì Thủ trưởng cơ sở y tế có trách nhiệm thông báo.
    Ngay sau khi nhận được thông báo, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc Trưởng công an cấp xã có trách nhiệm tổ chức lập biên bản về việc trẻ bị bỏ rơi; Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm giao trẻ cho cá nhân hoặc tổ chức tạm thời nuôi dưỡng theo quy định pháp luật.
    Biên bản phải ghi rõ thời gian, địa điểm phát hiện trẻ bị bỏ rơi; đặc điểm nhận dạng như giới tính, thể trạng, tình trạng sức khỏe; tài sản hoặc đồ vật khác của trẻ, nếu có; họ, tên, giấy tờ chứng minh nhân thân, nơi cư trú của người phát hiện trẻ bị bỏ rơi. Biên bản phải được người lập, người phát hiện trẻ bị bỏ rơi, người làm chứng (nếu có) ký tên và đóng dấu xác nhận của cơ quan lập.
    Biên bản được lập thành hai bản, một bản lưu tại cơ quan lập, một bản giao cá nhân hoặc tổ chức tạm thời nuôi dưỡng trẻ.
    2. Sau khi lập biên bản theo quy định tại Khoản 1 Điều này, Ủy ban nhân dân cấp xã tiến hành niêm yết tại trụ sở Ủy ban nhân dân trong 7 ngày liên tục về việc trẻ bị bỏ rơi.
    3. Hết thời hạn niêm yết, nếu không có thông tin về cha, mẹ đẻ của trẻ, Ủy ban nhân dân cấp xã thông báo cho cá nhân hoặc tổ chức đang tạm thời nuôi dưỡng trẻ để tiến hành đăng ký khai sinh cho trẻ. Cá nhân hoặc tổ chức đang tạm thời nuôi dưỡng trẻ có trách nhiệm khai sinh cho trẻ em. Thủ tục đăng ký khai sinh được thực hiện theo quy định tại Khoản 2 Điều 16 của Luật Hộ tịch.
    Họ, chữ đệm, tên của trẻ được xác định theo quy định của pháp luật dân sự. Nếu không có cơ sở để xác định ngày, tháng, năm sinh và nơi sinh của trẻ thì lấy ngày, tháng phát hiện trẻ bị bỏ rơi là ngày, tháng sinh; căn cứ thể trạng của trẻ để xác định năm sinh; nơi sinh là nơi phát hiện trẻ bị bỏ rơi; quê quán được xác định theo nơi sinh; quốc tịch của trẻ là quốc tịch Việt Nam. Phần khai về cha, mẹ và dân tộc của trẻ trong Giấy khai sinh và Sổ hộ tịch để trống; trong Sổ hộ tịch ghi rõ “Trẻ bị bỏ rơi”.
    Căn cứ vào quy định trên của pháp luật, chị H sẽ tiến hành đăng ký khai sinh cho trẻ khi được Ủy ban nhân dân cấp xã thông báo sau khi hết thời hạn niêm yết.

    Lên phía trên
    Thủ tục nhận cha cho con
    Câu hỏi:

    Chị A chung sống với anh T nhưng không đăng ký kết hôn. Do mâu thuẫn nên anh T bỏ di và không biết rằng chị A có thai với T. Sau khi sinh được một bé gái, chị A làm thủ tục khai sinh cho con, chị cho đứa bé mang họ mẹ, phần khai về cha trong giấy khai sinh của cháu để trống. Sau đó một thời gian, anh T biết chị A đã sinh con, qua tìm hiểu biết đó là con mình nên T đã quay lại xin nhận con, hàn gắn mối quan hệ trước đây. Chị A đồng ý và cho anh T nhận con gái. Tuy nhiên, chị A băn khoăn không biết chị có thể bổ sung tên anh T là cha vào giấy khai sinh của cháu bé không? Cơ quan nào có thẩm quyền giải quyết việc này?

    Trả lời:
    Theo quy định tại Điều 88 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 thì con sinh ra trước ngày đăng ký kết hôn và được cha mẹ thừa nhận là con chung của vợ chồng được xác định là cha, mẹ của con.
    Do đó, nếu anh T muốn nhận con thì anh chị có thể đề nghị cơ quan có thẩm quyền ghi bổ sung tên người cha vào giấy khai sinh của cháu. Tuy nhiên, trước khi ghi bổ sung tên cha vào giấy khai sinh của con, anh T cần phải làm thủ tục đăng ký việc nhận cha cho con.
    Tại Điều 19 Nghị định số 123/2015/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Hộ tịch quy định về đăng ký nhận cha, mẹ, con như sau:
    - Người yêu cầu đăng ký nhận cha, mẹ, con xuất trình bản chính một trong các giấy tờ là hộ chiếu, chứng minh nhân dân, thẻ căn cước công dân hoặc giấy tờ khác có dán ảnh và thông tin cá nhân do cơ quan có thẩm quyền cấp, còn giá trị sử dụng (sau đây gọi là giấy tờ tùy thân) để chứng minh về nhân thân và trực tiếp nộp hồ sơ tại Ủy ban nhân dân xã; hồ sơ đăng ký nhận cha, mẹ, con gồm các giấy tờ sau đây:
    + Tờ khai nhận cha, mẹ, con theo mẫu quy định;
    + Giấy tờ, tài liệu chứng minh quan hệ cha – con hoặc quan hệ mẹ – con; 
    + Bản sao giấy tờ chứng minh nhân thân, chứng minh nơi thường trú ở khu vực biên giới của công dân nước láng giềng.
    - Trong thời hạn 07 ngày làm việc, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ, công chức Tư pháp - Hộ tịch kiểm tra hồ sơ, niêm yết việc nhận cha, mẹ, con tại trụ sở Ủy ban nhân dân và báo cáo Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã quyết định. Trường hợp phải xác minh thì thời hạn giải quyết không quá 12 ngày làm việc.
    - Nếu thấy việc nhận cha, mẹ, con là đúng và không có tranh chấp, công chức Tư pháp - Hộ tịch ghi nội dung vào Sổ hộ tịch, cùng người có yêu cầu ký, ghi rõ họ tên vào Sổ hộ tịch; Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã ký cấp cho mỗi bên 01 bản chính trích lục hộ tịch.
    Khi đăng ký việc nhận cha, mẹ, con, các bên cha, mẹ, con phải có mặt. Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã ký và cấp cho mỗi bên một bản chính Quyết định công nhận việc nhận cha, mẹ, con. Uỷ ban nhân dân cấp xã nơi đã đăng ký khai sinh cho người con sẽ căn cứ Quyết định này để ghi bổ sung phần khai về cha, mẹ trong Sổ đăng ký khai sinh và bản chính Giấy khai sinh của người con. 
    Như vậy, để bổ sung tên anh T trong giấy khai sinh cho con, thì trước tiên anh T, chị A phải làm thủ tục đăng ký việc nhận cha cho con. Sau khi có quyết định công nhận việc nhận cha, con, UBND cấp xã, nơi chị A đã đăng ký khai sinh cho con sẽ ghi bổ sung phần khai về cha trong sổ đăng ký khai sinh và bản chính Giấy khai sinh của con.

    Lên phía trên
    Quyền thay đổi tên cho con
    Câu hỏi:

    Trước đây, khi đăng ký khai sinh, anh A đặt tên cho con là Phạm Nguyệt Lan. Khi con được 6 tháng tuổi, vợ chồng anh A cho con về quê nội thăm ông bà, họ hàng. Tuy nhiên, khi nghe tên đầy đủ của cháu, thì thấy trùng tên của bà cô tổ trong họ nên ông nội cháu yêu cầu phải đổi tên cho cháu, tránh phạm húy tới các bậc tiền bối. Trong trường hợp này, vợ chồng anh T có thể thay đổi tên cho con được không?

    Trả lời:
    Theo quy định tại Điều 28 BLDS năm 2015 thì cá nhân có quyền yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền công nhận việc thay đổi tên trong trường hợp sau đây:
    a) Theo yêu cầu của người có tên mà việc sử dụng tên đó gây nhầm lẫn, ảnh hưởng đến tình cảm gia đình, đến danh dự, quyền, lợi ích hợp pháp của người đó;
    b) Theo yêu cầu của cha nuôi, mẹ nuôi về việc thay đổi tên cho con nuôi hoặc khi người con nuôi thôi làm con nuôi và người này hoặc cha đẻ, mẹ đẻ yêu cầu lấy lại tên mà cha đẻ, mẹ đẻ đã đặt;
    c) Theo yêu cầu của cha đẻ, mẹ đẻ hoặc người con khi xác định cha, mẹ cho con;
    d) Thay đổi tên của người bị lưu lạc đã tìm ra nguồn gốc huyết thống của mình;
    đ) Thay đổi tên của vợ, chồng trong quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài để phù hợp với pháp luật của nước mà vợ, chồng người nước ngoài là công dân hoặc lấy lại tên trước khi thay đổi;
    e) Thay đổi tên của người đã xác định lại giới tính, người đã chuyển đổi giới tính;
    g) Trường hợp khác do pháp luật về hộ tịch quy định.
    Việc thay đổi tên cho người từ đủ chín tuổi trở lên phải có sự đồng ý của người đó.
    Việc thay đổi tên của cá nhân không làm thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự được xác lập theo tên cũ.
    Căn cứ vào quy định trên của pháp luật, thì với tư cách là cha mẹ đẻ của cháu bé (hiện cháu dưới 9 tuổi), vợ chồng anh chị có quyền được thay đổi tên cho con.

    Lên phía trên
    Cấp lại biên lai nộp tiền án phí, phạt tại Chi cục THADS huyện
    Câu hỏi:

    Anh A đã nộp tiền án phí, phạt tại Chi cục THADS huyện nhưng anh A làm mất biên lai thu tiền do cơ quan thi hành án cấp cho. Vậy anh A có đề nghị cơ quan thi hành án cấp lại biên lai được không?

    Trả lời:
    Biên lai nộp tiền án phí, phạt chỉ có 01 liên duy nhất đã cấp cho người nộp tiền. Do vậy, cơ quan thi hành án không cấp lại biên lai này nhưng có thể sao chụp lại biên lai gốc. Căn cứ Điều 53 Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014), anh A có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự xác nhận kết quả thi hành án.
    Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được yêu cầu của đương sự, Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự cấp giấy xác nhận kết quả thi hành án.

    Lên phía trên
    Yêu cầu định giá lại tài sản kê biên
    Câu hỏi:

    P phải thi hành nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng Công thương số tiền 1.000.000.000đ theo bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm của thành phố. Chi cục THADS thành phố đã kê biên và bán đấu giá tài sản của tôi. Do tài sản không bán được nên Chấp hành viên đã giảm giá tài sản theo quy định. Hiện nay, P thấy giá sau khi giảm xuống quá thấp, vậy tôi có quyền yêu cầu định giá lại tài sản kê biên hay không?

    Trả lời:
    Theo quy định tại Điều 99 Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014):
    1. Việc định giá lại tài sản kê biên được thực hiện trong các trường hợp sau đây:
    - Chấp hành viên có vi phạm nghiêm trọng quy định tại Điều 98 của Luật này dẫn đến sai lệch kết quả định giá tài sản;
    - Đương sự có yêu cầu định giá lại trước khi có thông báo công khai về việc bán đấu giá tài sản. Yêu cầu định giá lại chỉ được thực hiện một lần và chỉ được chấp nhận nếu đương sự có đơn yêu cầu trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được thông báo về kết quả thẩm định giá và phải nộp ngay tạm ứng chi phí định giá lại tài sản.
    2. Việc định giá lại tài sản kê biên được thực hiện theo quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 98 của Luật này.
    3. Giá thẩm định lại được lấy làm giá khởi điểm để bán đấu giá theo quy định.
    Như vậy, trường hợp của P không được quyền yêu cầu định giá lại tài sản kê biên.

    Lên phía trên
    Ủy quyền thực hiện việc yêu cầu thi hành án
    Câu hỏi:

    Tòa án nhân dân huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình ra Bản án dân sự sơ thẩm số 25/2019/DS-ST ngày 20/5/2019 giải quyết tranh chấp về trả lại nhà cho thuê đã tuyên buộc ông Nguyễn Quang Hải (ở tại xã Quảng Hưng, huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình) phải trả lại nhà cho thuê cho ông Phạm Minh Nhật (ở tại xã Cảnh Dương, huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình). Thời gian thực hiện nghĩa vụ vào ngày 20/01/2020.
    Đến ngày 28/01/2020 ông Nguyễn Quang Hải vẫn không thực hiện nghĩa vụ của mình nên ông Phạm Minh Nhật đã ủy quyền cho luật sư Hoàng Minh (ở tại phường Ba Đồn, thị xã Ba Đồn, tỉnh Quảng Bình) thực hiện việc yêu cầu thi hành án và thực hiện các thủ tục khác có liên quan (ông Phạm Minh Nhật đang đi công tác ở nước ngoài). Khi tiếp nhận đơn yêu cầu thi hành án, chị Lê Thị Lan đã từ chối nhận đơn yêu cầu và hướng dẫn việc nộp đơn phải do anh Phạm Minh Nhật trực tiếp thực hiện.
    Hỏi: Việc từ chối nhận đơn và hướng dẫn của chị Lê Thị Lan có phù hợp theo quy định của pháp luật không?

    Trả lời:
    Việc từ chối nhận đơn và hướng dẫn chủa chị Lê Thị Lan không phù hợp theo quy định của pháp luật.
    Căn cứ khoản 1 Điềy 31 Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014): “Đương sự tự mình hoặc ủy quyền cho người khác yêu cầu thi hành án bằng hình thức trực tiếp nộp đơn hoặc trình bày bằng lời nói hoặc gửi đơn qua bưu điện. Người yêu cầu phải nộp bản án, quyết định, tài liệu khác có liên quan”.
    Như vậy, việc ông Phạm Minh Nhật đã ủy quyền cho luật sư Hoàng Minh thực hiện việc yêu cầu thi hành án và thực hiện các thủ tục khác có liên quan là hoàn toàn phù hợp với quy định của pháp luật.

    Lên phía trên
    Ra quyết định thi hành án chủ động hay theo đơn
    Câu hỏi:

    Xin cho biết trường hợp ông Trần Quang H phải bồi thường cho Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Q một khoản tiền do phạm tội: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản (theo Bản án HS-ST số 82/2018 của TAND tỉnh Q ngày 20/7/2018) thì sẽ do cơ quan Thi hành án dân sự nào ra quyết định thi hành án và thuộc diện Thủ trưởng Cơ quan thi hành án dân sự tỉnh Q ban hành quyết định thi hành án chủ động hay phải hướng dẫn người được thi hành án làm đơn yêu cầu thi hành án?

    Trả lời:
    Trường hợp bạn hỏi là Bản án sơ thẩm, theo đó căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 35 Luật Thi hành án dân sự năm 2008, sửa đổi bổ sung năm 2014, bản án trên thuộc thẩm quyền thi hành án của Cơ quan Thi hành án dân sự cấp huyện. Do vậy, Cơ quan Thi hành án dân sự cấp huyện (tỉnh Q) sẽ ra quyết định thi hành án.
    Về vấn đề ra quyết định thi hành án chủ động hay theo đơn yêu cầu của đương sự thì do trong nội dung câu hỏi của bạn chưa nói rõ việc ông Trần Quang H phải bồi thường cho Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Q một khoản tiền do phạm tội là khoản bồi thường gì; khoản bồi thường này có được nộp trực tiếp vào ngân sách hay không. Vì vậy, chúng tôi xin trả lời bạn như sau:
    Căn cứ khoản 2 Điều 36 Luật Thi hành án dân sự năm 2008, sửa đổi bổ sung năm 2014, và khoản 4 Điều 1 Nghị định số 33/2020/NĐ-CP ngày 17/3/2020 của Chính phủ về Sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 62/2015/NĐ-CP ngày 18 tháng 7 năm 2015 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thi hành án dân sự (gọi tắt là Nghị định số 33/2020/NĐ-CP) để xác định nội dung bồi thường cho Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Q có phải là việc ra quyết định thi hành án chủ động hay không. Theo đó:
    - Nếu khoản bồi thường này được bản án tuyên trả cho Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Q thì thuộc diện thi hành án theo đơn yêu cầu thi hành án và sẽ được Thủ trưởng cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền ra quyết định thi hành theo đơn yêu cầu của Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Q theo quy định tại khoản 1 Điều 36 Luật Thi hành án dân sự, Điều 7 Nghị định số 62/2015/NĐ-CP ngày 18/7/2015 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thi hành án dân sự (gọi tắt là Nghị định số 33/2020/NĐ-CP)  và khoản 5 Điều 1 Nghị định số 33/2020/NĐ-CP.
    - Nếu khoản bồi thường này được bản án tuyên nộp trực tiếp vào ngân sách Nhà nước thì mới thuộc trường hợp Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền ra quyết định thi hành án chủ động theo nguyên tắc quy định tại khoản 2 Điều 36 Luật Thi hành  án dân sự và Điều 6 Nghị định số 62/2015/NĐ-CP và khoản 4 Điều 1 Nghị định số 33/2020/NĐ-CP.

    Lên phía trên
    Thế nào là người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi?
    Câu hỏi:

    Thế nào là người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi?

    Trả lời:
    Căn cứ Điều 23 Bộ luật dân sự 2015, để xác định một người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi thì phải có đủ các điều kiện:
    - Về khả năng nhận thức và điều kiển hành vi: người thành niên trong tình trạng thể chất hoặc tinh thần mà không đủ khả năng nhận thức, làm chủ hành vi nhưng chưa đến mức mất năng lực hành vi dân sự;
    - Có yêu cầu của người này, người có quyền, lợi ích liên quan hoặc của cơ quan, tổ chức hữu quan;
    - Có kết luận giám định pháp y tâm thần;
    - Có quyết định tuyên bố người này là người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi của Tòa án có hiệu lực pháp luật.

    Lên phía trên
    Những trường hợp nào được miễn lệ phí đăng ký hộ tịch?
    Câu hỏi:

    Những trường hợp nào được miễn lệ phí đăng ký hộ tịch?

    Trả lời:
    Điều 11 Luật Hộ tịch quy định những trường hợp sau được miễn lệ phí đăng ký hộ tịch:
    1. Đăng ký hộ tịch cho người thuộc gia đình có công với cách mạng; người thuộc hộ nghèo; người khuyết tật;
    2. Đăng ký khai sinh, khai tử đúng hạn, giám hộ, kết hôn của công dân Việt Nam cư trú ở trong nước.
    (Cá nhân yêu cầu đăng ký sự kiện hộ tịch khác ngoài các sự kiện nêu trên, yêu cầu cấp bản sao trích lục hộ tịch phải nộp lệ phí).

    Lên phía trên
    Việc yêu cầu và tiếp nhận yêu cầu đăng ký hộ tịch được thực hiện theo phương thức nào?
    Câu hỏi:

    Việc yêu cầu và tiếp nhận yêu cầu đăng ký hộ tịch được thực hiện theo phương thức nào?

    Trả lời:
    Điều 9 Luật Hộ tịch và Điều 3 Nghị định 123 quy định:
    1. Có 3 loại việc đăng ký hộ tịch như đăng ký kết hôn, nhận cha, mẹ con, đăng ký lại kết hôn thì người yêu cầu phải trực tiếp nộp hồ sơ tại cơ quan đăng ký hộ tịch. Người yêu cầu đăng ký các việc hộ tịch khác và cấp bản sao trích lục hộ tịch, có thể nộp hồ sơ trực tiếp cho cơ quan đăng ký hộ tịch hoặc gửi hồ sơ qua hệ thống bưu chính hoặc gửi qua hệ thống đăng ký hộ tịch trực tuyến.
    2. Khi làm thủ tục đăng ký hộ tịch, cấp bản sao trích lục hộ tịch từ Cơ sở dữ liệu hộ tịch, cá nhân xuất trình giấy tờ chứng minh nhân thân cho cơ quan đăng ký hộ tịch. Trường hợp gửi hồ sơ qua hệ thống bưu chính thì phải gửi kèm theo bản sao có chứng thực giấy tờ chứng minh nhân thân và nộp lệ phí đằng ký hộ tịch, lệ phí cấp bản sao trích lục hộ tịch nếu không thuộc diện được miễn lệ phí.
    3. Đối với những việc đăng ký hộ tịch có quy định thời hạn giải quyết, thì người tiếp nhận hồ sơ phải viết giấy tiếp nhận; trường hợp hồ sơ chưa đầy đủ, không hợp lệ thì phải hướng dẫn bằng văn bản để người đi đăng ký hộ tịch bổ sung, hoàn thiện. Văn bản hướng dẫn phải ghi đầy đủ, rõ ràng loại giấy tờ bổ sung.
    Trường hợp người có yêu cầu nộp hồ sơ không đúng cơ quan đăng ký hộ tịch có thẩm quyền thì người tiếp nhận hướng dẫn người đi đăng ký hộ tịch đến cơ quan có thẩm quyền để nộp hồ sơ.

    Lên phía trên
    Hộ tịch và đăng ký hộ tịch được hiểu như thế nào? Đăng ký hộ tịch bao gồm những nội dung gì?
    Câu hỏi:

    Hộ tịch và đăng ký hộ tịch được hiểu như thế nào? Đăng ký hộ tịch bao gồm những nội dung gì?

    Trả lời:
    * Điều 2 Luật Hộ tịch quy định:
    1. Hộ tịch là những sự kiện được quy định tại Điều 3 của Luật này, xác định tình trạng nhân thân của cá nhân từ khi sinh ra đến khi chết.
    2. Đăng ký hộ tịch là việc cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác nhận hoặc ghi vào Sổ hộ tịch các sự kiện hộ tịch của cá nhân, tạo cơ sở pháp lý để Nhà nước bảo hộ quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, thực hiện quản lý về dân cư.
    * Điều 3 Luật Hộ tịch quy định nội dung đăng ký hộ tịch bao gồm:
    1. Xác nhận vào Sổ hộ tịch các sự kiện hộ tịch:
    a) Khai sinh;
    b) Kết hôn;
    c) Giám hộ;
    d) Nhận cha, mẹ, con;
    đ) Thay đổi, cải chính hộ tịch, xác định lại dân tộc, bổ sung thông tin hộ tịch;
    e) Khai tử.
    2. Ghi vào Sổ hộ tịch việc thay đổi hộ tịch của cá nhân theo bản án, quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền:
    a) Thay đổi quốc tịch;
    b) Xác định cha, mẹ, con;
    c) Xác định lại giới tính;
    d) Nuôi con nuôi, chấm dứt việc nuôi con nuôi;
    đ) Ly hôn, hủy việc kết hôn trái pháp luật, công nhận việc kết hôn;
    e) Công nhận giám hộ;
    g) Tuyên bố hoặc huỷ tuyên bố một người mất tích, đã chết, bị mất hoặc hạn chế năng lực hành vi dân sự.
    3. Ghi vào Sổ hộ tịch sự kiện khai sinh; kết hôn; ly hôn; hủy việc kết hôn; giám hộ; nhận cha, mẹ, con; xác định cha, mẹ, con; nuôi con nuôi; thay đổi hộ tịch; khai tử của công dân Việt Nam đã được giải quyết tại cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài.
    4. Xác nhận hoặc ghi vào Sổ hộ tịch các việc hộ tịch khác theo quy định của pháp luật.

    Lên phía trên
    Từ năm 1945 khi thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (nay là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam) đến nay, nước ta có mấy bản Hiến pháp?
    Câu hỏi:

    Từ năm 1945 khi thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (nay là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam) đến nay, nước ta có mấy bản Hiến pháp? Các bản Hiến pháp đó được Quốc hội thông qua vào ngày, tháng, năm nào?

    Trả lời:
    Từ khi thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (nay là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam) đến nay, nước ta có 05 bản Hiến pháp. Cụ thể như sau:

    1. Hiến pháp năm 1946 - Bản Hiến pháp đầu tiên:

    - Trước Cách mạng tháng Tám năm 1945, dưới ách cai trị hà khắc, tàn bạo của thực dân, phong kiến, nước ta không có Hiến pháp, nhân dân ta không có tự do, dân chủ. Ngay từ khi chưa giành được chính quyền, tại Hội nghị Trung ương 7, tháng 11 năm 1940, Đảng ta đã chủ trương khi giành được chính quyền cần “Ban bố Hiến pháp dân chủ; ban bố những quyền tự do dân chủ cho nhân dân”. Một ngày sau khi đọc bản Tuyên ngôn độc lập khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, tại phiên họp đầu tiên của Chính phủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đề ra nhiệm vụ cấp bách là xây dựng một bản Hiến pháp dân chủ cho nước Việt Nam.

    - Sau 10 tháng chuẩn bị tích cực kể từ sau cuộc Tổng tuyển cử bầu Quốc hội khóa đầu tiên vào ngày 06/01/1946, ngày 09/11/1946, Quốc hội khóa I, kỳ họp thứ 2 đã thông qua bản Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà (với 240/242 phiếu tán thành).

    - Hiến pháp năm 1946 ra đời là sự khẳng định mạnh mẽ về mặt pháp lý chủ quyền quốc gia của nhân dân Việt Nam, sự độc lập và toàn vẹn lãnh thổ của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, thấm đẫm tư tưởng dân chủ pháp quyền. Tư tưởng lập hiến của Hiến pháp 1946 luôn được kế thừa và phát triển trong các bản Hiến pháp sau này, tạo tiền đề pháp lý đặc biệt quan trọng cho việc thiết lập một chính quyền dân chủ, mạnh mẽ và sáng suốt.

    2. Hiến pháp năm 1959:

    Sau chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954, đất nước tạm thời bị chia cắt thành hai miền, miền Bắc được hoàn toàn giải phóng và từng bước đi lên xây dựng CNXH, miền Nam tạm thời đặt dưới sự kiểm soát của Mỹ - Ngụy. Sự thay đổi của tình hình chính trị - xã hội nói trên đã làm cho Hiến pháp 1946 không có điều kiện áp dụng trên phạm vi cả nước. Mặt khác, nhiều quy định của Hiến pháp 1946 cũng không còn phù hợp với điều kiện cách mạng nước ta ở miền Bắc lúc bấy giờ. Vì vậy, việc yêu cầu sửa đổi Hiến pháp 1946 đã được đặt ra. Để thực hiện được nhiệm vụ này, Chính phủ đã thành lập một Ban sửa đổi Hiến pháp với 28 thành viên, do Chủ tịch Hồ Chí Minh làm Trưởng Ban. Ngày 01/4/1959, Bản dự thảo Hiến pháp mới đã được công bố để toàn dân thảo luận và đóng góp ý kiến

    - Ngày 31/12/1959, tại kỳ họp thứ 11, Quốc hội khóa I đã thông qua bản Hiến pháp mới thay thế Hiến pháp năm 1946. Ngày 01/01/1960, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký lệnh công bố Hiến pháp năm 1959.

    3. Hiến pháp năm 1980:

    - Ngày 30/4/1975 đánh dấu một mốc son chói lọi trong lịch sử dân tộc Việt Nam, đất nước hoàn toàn thống nhất, non sông thu về một mối. Ngày 25/4/1976, cuộc Tổng tuyển cử theo nguyên tắc phổ thông đầu phiếu đã bầu ra 492 vị đại biểu Quốc hội (khóa VI). Từ ngày 24/6 đến 03/7/1976, Quốc hội khóa VI tiến hành kỳ họp đầu tiên. Tại kỳ họp này, ngày 02/7/1976, Quốc hội đã quyết định đổi tên nước ta thành nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam; đồng thời  ban hành Nghị quyết về việc sửa đổi Hiến pháp 1959 và thành lập Uỷ ban dự thảo Hiến pháp gồm 36 người do đồng chí Trường Chinh - Chủ tịch Uỷ ban Thường vụ Quốc hội làm Chủ tịch Ủy ban dự thảo Hiến pháp mới. Tháng 8/1979, bản Dự thảo Hiến pháp mới được đưa ra lấy ý kiến nhân dân cả nước.

    - Ngày 18/12/1980, tại kỳ họp thứ 7 Quốc hội khóa VI đã nhất trí thông qua Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

    - Với Hiến pháp năm 1980, lần đầu tiên vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam được hiến định tại Điều 4, đây là nhân tố chủ yếu quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam trong thời kỳ quá độ đi lên Chủ nghĩa xã hội. 

    4. Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001):

    - Trong những năm cuối của thập kỷ 80 của thế kỷ XX, các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu và Liên Xô sụp đổ, nước ta lâm vào cuộc khủng hoảng kinh tế trầm trọng. Đại hội VI của Đảng Cộng sản Việt Nam (12/1986) đã đề ra đường lối đổi mới với nhiều chủ trương, giải pháp quan trọng để giữ vững ổn định về chính trị và tiếp tục phát triển kinh tế - xã hội; trong bối cảnh đó, nhiều quy định của Hiến pháp năm 1980 không còn phù hợp với yêu cầu xây dựng đất nước trong điều kiện mới. Ngày 22/12/1988, tại kỳ họp thứ 3 Quốc hội khóa VIII đã ra Nghị quyết thành lập Uỷ ban sửa đổi Hiến pháp gồm 28 đồng chí do Chủ tịch Hội đồng Nhà nước Võ Chí Công làm Chủ tịch Uỷ ban sửa đổi Hiến pháp.

    - Ngày 15/4/1992, trên cơ sở tổng hợp ý kiến của nhân dân cả nước, Bản dự thảo Hiến pháp mới lần này đã được Quốc hội khóa VIII, kỳ họp thứ 11 thông qua. Ngày 25/12/2001, tại kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa X đã thông qua Nghị quyết số 51/2001/QH10 về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992.
    - Hiến pháp năm 1992 được gọi là Hiến pháp của Việt Nam trong thời kỳ đầu của tiến trình đổi mới.
    5. Hiến pháp năm 2013:
    - Trên cơ sở Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội năm 1991 (bổ sung, phát triển năm 2011) của Đảng Cộng sản Việt Nam, cùng với kết quả tổng kết thực tiễn qua 25 năm thực hiện công cuộc đổi mới toàn diện đất nước đã đặt ra yêu cầu phải sửa đổi, bổ sung Hiến pháp năm 1992; nhằm thể chế hóa đầy đủ hơn, sâu sắc hơn quan điểm của Đảng và nhà nước ta về đề cao chủ quyền nhân dân, phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa và đảm bảo tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân. Ngày 06/8/2011, tại kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa XIII, đã thông qua Nghị quyết số 06/2011/QH13 thành lập Ủy ban dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 gồm 30 thành viên, do đồng chí Nguyễn Sinh Hùng – Chủ tịch Quốc hội làm Chủ tịch Ủy ban.
    - Sau thời gian 9 tháng (từ tháng 01 đến tháng 9/2013) triển khai lấy ý kiến góp ý của nhân dân cả nước và người Việt Nam ở nước ngoài, ngày 28/11/2013, tại kỳ họp thứ 6, Quốc hội khóa XIII chính thức thông qua Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam – Hiến pháp năm 2013, thay thế cho Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001). Ngày 08/12/2013, Chủ tịch nước đã ký Lệnh công bố Hiến pháp. Hiến pháp năm 2013 có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2014.   
    - Đây là bản Hiến pháp của thời kỳ tiếp tục đổi mới đất nước trong sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc và hội nhập quốc tế.

    Lên phía trên
    Bản Hiến pháp năm 2013 có hiệu lực từ ngày, tháng, năm nào?
    Câu hỏi:

    Bản Hiến pháp năm 2013 được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 28/11/2013 (Hiến pháp năm 2013) có hiệu lực từ ngày, tháng, năm nào? So với Hiến pháp năm 1992 (được sửa đổi, bổ sung năm 2001) có bao nhiêu điều được giữ nguyên?

    Trả lời:
    - Hiến pháp năm 2013 được Quốc hội khóa XIII, kỳ họp thứ 6 thông qua ngày 28/11/2013 và có hiệu lực từ ngày 01/01/2014.
    - Hiến pháp năm 2013 gồm 11 chương, 120 điều. So với Hiến pháp năm 1992 (được sửa đổi, bổ sung năm 2001), Hiến pháp năm 2013 giảm 1 chương và 27 điều; giữ nguyên 07 điều, sửa đổi 101 điều, bổ sung 12 điều mới.
    7 Điều được giữ nguyên, gồm: Điều 1 (giữ nguyên Điều 1); Điều 49 (giữ nguyên Điều 82); Điều 77 (giữ nguyên Điều 96); Điều 86 (giữ nguyên Điều 101); Điều 87 (giữ nguyên Điều 102);  Điều 91 (giữ nguyên Điều 106); Điều 97 (giữ nguyên Điều 113).
    12 Điều mới, gồm: Điều 19; Điều 34; Điều 41; Điều 42; Điều 43; Điều 55; Điều 63; Điều 78; Điều 111; Điều 112; Điều 117; Điều 118.
    Lên phía trên
    Những quy định nào của Hiến pháp năm 2013 thể hiện tư tưởng đại đoàn kết dân tộc?
    Câu hỏi:

    Những quy định nào của Hiến pháp năm 2013 thể hiện tư tưởng đại đoàn kết dân tộc?

    Trả lời:
    Tư tưởng đại đoàn kết dân tộc được ghi nhận trong Hiến pháp năm 2013 cũng là quan điểm nhất quán mà Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI đã  khẳng định: "Nâng cao nhận thức, trách nhiệm của toàn Đảng, toàn dân về phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc trong bối cảnh mới. Lấy mục tiêu xây dựng một nước Việt Nam hoà bình, độc lập, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh làm điểm tương đồng; xoá bỏ mặc cảm, định kiến về quá khứ, thành phần giai cấp, chấp nhận những điểm khác nhau không trái với lợi ích chung của dân tộc; đề cao tinh thần dân tộc, truyền thống nhân nghĩa, khoan dung... để tập hợp, đoàn kết mọi người vào mặt trận chung, tăng cường đồng thuận xã hội".
    Tư tưởng đại đoàn kết toàn dân tộc của Chủ tịch Hồ Chí Minh trở thành đường lối chiến lược của Đảng Cộng sản Việt Nam, đã và đang từng bước được hiện thực hóa trong quá trình cách mạng. Tư tưởng đại đoàn kết toàn dân tộc được thể hiện trong Hiến pháp năm 2013 như sau:
    1. Điều 5, Hiến pháp năm 2013 quy định: "1. Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là quốc gia thống nhất của các dân tộc cùng sinh sống trên đất nước Việt Nam. 2. Các dân tộc bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng phát triển; nghiêm cấm mọi hành vi kỳ thị, chia rẽ dân tộc. 3. Ngôn ngữ quốc gia là tiếng Việt. Các dân tộc có quyền dùng tiếng nói, chữ viết, giữ gìn bản sắc dân tộc, phát huy phong tục, tập quán, truyền thống và văn hóa tốt đẹp của mình. 4. Nhà nước thực hiện chính sách phát triển toàn diện và tạo điều kiện để các dân tộc thiểu số phát huy nội lực, cùng phát triển với đất nước".
    2. Khoản 1 Điều 9 quy định: “Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân; đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của Nhân dân; tập hợp, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, thực hiện dân chủ, tăng cường đồng thuận xã hội; giám sát, phản biện xã hội; tham gia xây dựng Đảng, Nhà nước, hoạt động đối ngoại nhân dân góp phần xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”.
    3. Nhìn từ góc độ khác, việc tôn trọng quyền con người, quyền tự do dân chủ của công dân, tôn trọng khác biệt, hòa nhập tương đồng cũng là sự thể hiện tư tưởng đại đoàn kết toàn dân tộc.
    Điều 42 của Hiến pháp 2013 cũng ghi nhận: "Công dân có quyền xác định dân tộc của mình, sử dụng ngôn ngữ mẹ đẻ, lựa chọn ngôn ngữ giao tiếp".
    Trong lĩnh vực y tế, chăm sóc sức khỏe cho đồng bào dân tộc thiểu số, vùng có điều kiện kinh tế-xã hội đặc biệt khó khăn được khẳng định tại Khoản 1 Điều 58 qui định: “Nhà nước, xã hội đầu tư phát triển sự nghiệp bảo vệ, chăm sóc sức khỏe của Nhân dân, thực hiện bảo hiểm y tế toàn dân, có chính sách ưu tiên chăm sóc sức khỏe cho đồng bào dân tộc thiểu số, đồng bào ở miền núi, hải đảo và vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn".
    Trong lĩnh vực văn hóa, Hiến pháp năm 2013 khẳng định tại Khoản 1 Điều 60: “Nhà nước, xã hội chăm lo xây dựng và phát triển nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại".
    Trong lĩnh vực giáo dục, Hiến pháp năm 2013 quy định rõ hơn các chính sách ưu tiên tại khoản 3 Điều 61: "Nhà nước ưu tiên phát triển giáo dục ở miền núi, hải đảo, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn; ưu tiên sử dụng, phát triển nhân tài; tạo điều kiện để người khuyết tật và người nghèo được học văn hoá và học nghề".
    4. Đề cao vai trò, trách nhiệm của Hội đồng và Chủ tịch Hội đồng dân tộc tại Điều 75: “Hội đồng dân tộc nghiên cứu và kiến nghị với Quốc hội về công tác dân tộc; thực hiện quyền giám sát việc thi hành chính sách dân tộc, chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội miền núi và vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Chủ tịch Hội đồng dân tộc được mời tham dự phiên họp của Chính phủ bàn về việc thực hiện chính sách dân tộc. Khi ban hành quy định thực hiện chính sách dân tộc, Chính phủ phải lấy ý kiến của Hội đồng dân tộc".
    Như vậy, Hiến pháp năm 2013 đã thể hiện nhất quán tư tưởng: Cộng đồng các dân tộc Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng phát triển.
    Lên phía trên
    Thừa phát lại là gì? Điều kiện để được bổ nhiệm làm Thừa phát lại?
    Câu hỏi:

    Thừa phát lại là gì? Điều kiện để được bổ nhiệm làm Thừa phát lại?

    Trả lời:
    Theo khoản 1 Điều 2, Nghị định số 08/2020/NĐ-CP: Thừa phát lại là người có đủ tiêu chuẩn được Nhà nước bổ nhiệm để thực hiện việc tống đạt, lập vi bằng, xác minh điều kiện thi hành án dân sự, tổ chức thi hành án dân sự theo quy định của Nghị định này và pháp luật có liên quan.
    Điều kiện để được bổ nhiệm Thừa phát lại: Là công dân Việt Nam không quá 65 tuổi, thường trú tại Việt Nam, chấp hành tốt Hiến pháp và pháp luật, có phẩm chất đạo đức tốt; Có bằng tốt nghiệp đại học hoặc sau đại học chuyên ngành luật; Có thời gian công tác pháp luật từ 03 năm trở lên tại các cơ quan, tổ chức sau khi đã có bằng tốt nghiệp đại học hoặc sau đại học chuyên ngành luật; Tốt nghiệp khóa đào tạo, được được công nhận tương đương đào tạo hoặc hoàn thành khóa bồi dưỡng nghề Thừa phát lại; Đạt yêu cầu kiểm tra kết quả tập sự hành nghề (Căn cứ Điều 6 Nghị định số 08/2020/NĐ-CP).
    Lên phía trên
    Những bản án, quyết định nào được thi hành theo thủ tục thi hành án dân sự?
    Câu hỏi:

    Những bản án, quyết định nào được thi hành theo thủ tục thi hành án dân sự?

    Trả lời:
    Những bản án, quyết định được thi hành theo thủ tục thi hành án dân sự là bản án, quyết định dân sự, hình phạt tiền, tịch thu tài sản, truy thu tiền, tài sản thu lợi bất chính, xử lý vật chứng, tài sản, án phí và quyết định dân sự trong bản án, quyết định hình sự, phần tài sản trong bản án, quyết định hành chính của Tòa án, quyết định của Tòa án giải quyết phá sản, quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh của Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh có liên quan đến tài sản của bên phải thi hành và phán quyết, quyết định của Trọng tài thương mại (gọi chung là bản án, quyết định).
    Những bản án, quyết định được thi hành theo theo thủ tục thi hành án dân sự bao gồm 02 loại:
    - Thứ nhất, bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật, gồm:
    a) Bản án, quyết định hoặc phần bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm;
    b) Bản án, quyết định của Tòa án cấp phúc thẩm;
    c) Quyết định giám đốc thẩm hoặc tái thẩm của Tòa án;
    d) Bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài, quyết định của Trọng tài nước ngoài đã được Tòa án Việt Nam công nhận và cho thi hành tại Việt Nam;
    đ) Quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh của Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh mà sau 30 ngày, kể từ ngày có hiệu lực pháp luật đương sự không tự nguyện thi hành, không khởi kiện tại Tòa án;
    e) Phán quyết, quyết định của Trọng tài thương mại;
    g) Quyết định của Tòa án giải quyết phá sản.
    - Thứ hai, những bản án, quyết định sau đây của Tòa án cấp sơ thẩm được thi hành ngay, mặc dù có thể bị kháng cáo, kháng nghị:
    a) Bản án, quyết định về cấp dưỡng, trả lương, trả công lao động, trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm, trợ cấp mất sức lao động hoặc bồi thường thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, tổn thất về tinh thần, nhận người lao động trở lại làm việc;
    b) Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời.
    Lên phía trên
    Cơ quan thi hành án dân sự được quyền từ chối nhận đơn yêu cầu thi hành án dân sự không?
    Câu hỏi:

    Cơ quan thi hành án dân sự được quyền từ chối nhận đơn yêu cầu thi hành án dân sự không?

    Trả lời:
    Căn cứ khoản 5 Điều 31, Luật THADS 2008, và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật THADS 2014: Cơ quan thi hành án dân sự từ chối yêu cầu thi hành án và thông báo bằng văn bản cho người yêu cầu trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được đơn yêu cầu thi hành án trong các trường hợp: Người yêu cầu không có quyền yêu cầu thi hành án hoặc nội dung yêu cầu không liên quan đến nội dung của bản án, quyết định; bản án, quyết định không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ của các đương sự theo quy định của Luật này; Cơ quan thi hành án dân sự được yêu cầu không có thẩm quyền thi hành án; Hết thời hiệu yêu cầu thi hành án.

     

    Hình ảnh hoạt động

    • 1
    • 1
    • 1
    • 1
    • 1

    Liên kết website

    Video

    Trường Trung cấp Luật Đồng Hới- Quảng Bình